MỘT QUÁI TRẠNG VĂN HÓA - HOÀNG NGỌC TUẤN www.tienve.org/

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

văn học | âm nhạc | sân khấu | tạo hình | sách | tạp chí Việt | nhóm chủ trương | help |

tin & thư | chuyên đề | tác phẩm mới | tác phẩm của tháng | thảo luận trong tháng | tác giả | gửi bài | góp ý | thư đọc giả | -->
dẫn nhập | nhận định | tác phẩm | thảo luận |
danh mục chuyên đề
Hoàng Ngọc-Tuấn Một quái trạng văn hoá  [chuyên đề  VĂN NGHỆ HẬU HIỆN ĐẠI]

 

Ðọc internet tình cờ thấy trên báo Tia Sáng ngày 2/10/2008 có một bài viết dưới nhan đề là "Góp chuyện hậu hiện đại" tôi vào xem cho biết thì vô cùng kinh ngạc vì ngay câu đầu tiên của bài viết đã sai đến ngớ ngẩn như thế này:

Từ "hậu hiện đại" (postmodern) xuất hiện lần đầu trong cuốn Hoàn cảnh Hậu hiện đại (La Condition Postmoderne) của Jean-Francois Lyotard...

Câu tuyên bố (với giọng khẳng định như sách giáo khoa tiểu học dứt khoát ngắn gọn không hề "có lẽ" hay "có thể" gì cả) này là do ai viết mà khủng khiếp đến thế? Tôi tự hỏi và tôi kéo con chuột xuống cuối bài để xem thì mới biết tác giả là Trịnh Lữ và tôi càng thấy kinh ngạc khi bài viết này lại là một bài tham luận đọc tại Hội thảo Khoa học "Nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá" do Viện Mỹ thuật và trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội tổ chức vào cuối tháng 9/2008.

Cái điều sai khủng khiếp này khiến tôi nhớ lại một cái điều sai khác còn khủng khiếp hơn nữa vừa xảy ra cách đây vài tháng. Trong Hội thảo "Lý luận Văn học Việt Nam thế kỷ XX" tổ chức ngày 7/6/2008 tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội ông Hoàng Ngọc Hiến đọc bài tham luận "Tiếp nhận những cách tân của chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại". (Sau đó bài tham luận ấy được đăng lại trên tạp chí Sông Hương ngày 16/7/2008.) Trong bài tham luận ấy ông Hoàng Ngọc Hiến cũng với thái độ đầy thẩm quyền dứt khoát không hề "có lẽ" hay "có thể" gì cả khẳng định:

Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại lần đầu tiên xuất hiện năm 1977 trong cuốn sách Ngôn ngữ kiến trúc hiện đạ i của Charles Djenks.

Như thế ông Trịnh Lữ cho rằng Jean-Francois Lyotard đã đẻ ra từ "postmodern" vào năm 1979 trong cuốn La Condition Postmoderne; còn ông Hoàng Ngọc Hiến thì cho rằng ông Charles Djenks [khổ quá tên của người ta là Charles JENCKS thưa ông Hoàng Ngọc Hiến!] đã đẻ ra từ "postmodernism" vào năm 1977 trong cuốn Ngôn ngữ kiến trúc hiện đại [khổ quá cuốn sách của người ta là Ngôn ngữ kiến trúc HẬU hiện đại The Language of Post-Modern Architecture thưa ông Hoàng Ngọc Hiến!]

Cả hai bài tham luận tại hai hội thảo cao cấp đều vấp phải vô số những cái sai về kiến thức và về lập luận nhưng cái sai dễ thấy nhất là về thời điểm xuất hiện của các từ "hậu hiện đại" và "chủ nghĩa hậu hiện đại". Thế nhưng thật lạ lùng có lẽ chẳng ai có mặt tại hai cái hội thảo ấy phát hiện ra cái gì sai nên chẳng ai lên tiếng và vì thế sau đó hai tác giả đã hiên ngang đem gửi đăng trên báo. Hoàng Ngọc Hiến đăng bài tham luận lên tạp chí Sông Hương (diễn đàn của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế); Trịnh Lữ đăng bài tham luận lên tờ Tia Sáng (tờ báo của Bộ Khoa học và Công nghệ với cái khẩu hiệu "một góc nhìn của trí thức"). Và ban biên tập của cả hai tờ báo ấy cũng hoan hỉ tin là đúng cho đăng tải nguyên văn những cái sai ấy và tất nhiên rất nhiều những cái sai khác trong hai bài ấy mà chẳng hề kiểm chứng hay thắc mắc.

Vì sao họ chẳng hề kiểm chứng chẳng hề thắc mắc? Vì ông Hoàng Ngọc Hiến đã nổi danh như một giáo sư học giả hàng đầu ở thủ đô nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam! Vì ông Trịnh Lữ cũng nổi tiếng ở thủ đô chẳng kém gì mấy: ông đã là dịch giả "đáng tin cậy" của một số sách của dăm ba nhà văn quốc tế và ông đã nhận giải thưởng dịch thuật của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005! Báo Thể thao & Văn hoá ngày 27/9/2008 nhấn mạnh rằng bài tham luận của Trịnh Lữ là bài "đáng chú ý". Ký giả Vũ Lâm đã theo dõi cuộc hội thảo ấy và viết bài tường thuật "Nói chuyện ‘hậu hiện đại và ‘toàn cầu hoá " trên báo. Ngay ở câu nhập đề Vũ Lâm đã long trọng giới thiệu Trịnh Lữ trước tất cả những tên tuổi khác chỉ vì "Dịch giả Trịnh Lữ từng sống ở Mỹ nhiều năm và khá lịch duyệt văn hóa Âu-Mỹ"!

Trong một xã hội còn quá lạc hậu về mọi phương diện có lẽ chẳng mấy ai dám nghi ngờ hai ông nổi tiếng có bằng cấp cao sành ngoại ngữ từng chu du nước nọ nước kia rất nhiều vì thế nên hai cái sai lố bịch ấy lan ra nhanh chóng như hai cái chân lý bằng dầu phộng.

Trong khi tôi đang viết bài này tôi vào google để xem thử thì thấy bài của Trịnh Lữ đã được đăng lại nguyên văn trên nhiều websites đặc biệt nhất là website của Đại học Văn hoá Hà Nội (khoa Sáng tác & Lý luận phê bình). Thầy trò tha hồ mà tiếp thu! Bài của Hoàng Ngọc Hiến thì cũng đã được đăng lại nguyên văn trên nhiều websites đặc biệt nhất là website của Trung tâm Văn Hoá Hội Nhà văn Việt Nam vào ngày 15/9/2008. Văn giới Việt Nam tha hồ mà học hỏi!

Thế nhưng đáng kinh ngạc hơn nữa cái điều mà hai tác giả nói sai khủng khiếp ấy lại chẳng phải là điều gì khó khăn phức tạp đến mức khiến họ khó tránh nổi cái sai. Thật vậy nếu ta thử hỏi một cậu học trò trung học có thái độ hiếu học và tư cách đàng hoàng rằng: "Các từ ‘postmodern và ‘postmodernism đã xuất hiện từ lúc nào?" thì cậu học trò (với cái màn hình internet trước mặt) sẽ có thể nhanh chóng cho ta một câu trả lời còn khá hơn hai ông học giả kia. Thật vậy câu hỏi này chẳng có gì khó hơn bất cứ một câu hỏi khoa học phổ thông nào. Nó cũng phổ thông như câu hỏi "Những động vật nào đang có nguy cơ bị diệt chủng?"

Tôi thử bỏ ra chừng mươi phút để tìm trên google xem kết quả thế nào thì đã nhặt được hàng loạt thông tin về xuất xứ và sự tái hiện của các từ "postmodern" và "postmodernism" (trước năm 1977 của ông Hoàng Ngọc Hiến và trước năm 1979 của ông Trịnh Lữ). Tôi chỉ xin liệt kê lại ngay ở đây một cách thô sơ những gì xuất hiện trên google (tất nhiên chẳng đầy đủ và mức độ chính xác chưa được kiểm chứng):

- Theo Perry Anderson ghi nhận trong cuốn The Origins of Postmodernity (1998) từ "postmodern" có lẽ xuất hiện đầu tiên trong thập niên 1870 (không nói chính xác năm nào ở đâu) do John Waitkins Chapman (một hoạ sĩ người Anh) sử dụng để nói về một lối hội hoạ đã vượt qua khỏi phái ấn tượng.   - Năm 1914 J.M. Thompson sử dụng từ "Post-Modernism" làm nhan đề một bài viết về tôn giáo được in trên trang 733 tạp chí triết học The Hibbert Journal Vol XII No.4 July 1914.   - Năm 1917 trong cuốn Die Krisis der europäischen Kultur (Nuremberg: Hans Carl 1917) trang 64 Rudolf Pannwitz dùng từ "post-modernism" để mô tả dạng thức văn hoá diễn ra sau chủ nghĩa hư vô của Nietzsche.   - Năm 1921 và 1925 từ "postmodernism" đã được sử dụng để mô tả những hình thức mới của mỹ thuật và âm nhạc. (Không rõ ai là những người sử dụng.)   - Năm 1926 Bernard Iddings Bell đã viết từ "postmodernism" ngay trên bìa cuốn sách Postmodernism and other Essay s (Milwaukee: Morehouse Publishing Co. 1926).   - Năm 1934 trong cuốn Antología de la Poesía española e hispanoamericana: 1882-1932 (Madrid: Centro de Estudios Históricos 1934) trang xviii-xix Frederica de Onis dùng từ "postmodernismo" để chỉ chung cho một thời kỳ lịch sử và một phong trào văn học đã diễn ra giữa những năm 1896 và 1905 và sau đó thì đến thời "ultramodernismo" từ 1914 đến 1932.   - Năm 1939 từ "postmodernism" được dùng trong cuốn Religion for Living: A Book for Postmodernists (London: The Religious Book Club 1939) của Bernard Iddings Bell để nói đến sự thất bại của chủ nghĩa hiện đại thế tục và sự trở về với tôn giáo.   - Cũng năm 1939 trong quyển thứ 5 trang 43 của bộ Study of History sử gia Arnold J. Toynbee cho rằng Thế Chiến thứ nhất (1914-1918) là điểm khởi đầu của "Post-Modern Age". Năm 1954 trong quyển thứ 8 và thứ 9 Arnold J. Toynbee tái sử dụng từ "post-modernism" và cho rằng thời "hậu hiện đại" có thể đã bắt đầu khoảng sau năm 1875 biểu hiện qua sự suy sụp của lý tính Khai Sáng và sự nhiễu nhương của xã hội.   - Năm 1942 H.R. Hays dùng từ "postmodernism" để chỉ một hình thức văn chương mới (không nói chính xác tài liệu nào). Tuy nhiên Michael Koehler cho rằng Dudley Fitts mới là người sử dụng từ "postmodernism" trong một tuyển tập tiểu luận (không rõ tuyển tập nào) do chính ông làm chủ biên chứ không phải H.R. Hays người phụ tá của ông.   - Ngày 20/8/1951 trong một bức thư gửi Creeley Charles Olson viết: "any POST-MODERN is born with the ancient confidence that he does belong" trong Olson-Creeley Correspondence (Santa Rosa CA: Black Sparrow Press 1980-96) vol. 7 p.115.   - Cùng năm 1951 Pico Miran tung ra bản tuyên ngôn A Manifesto for Post-Modern Art (New York: American Art Gallery 1951).   - Năm 1959 có một tiểu luận của Irving Howe dưới nhan đề "Mass Society and Post-Modern Fiction" đăng trong Partisan Review XXVI (Summer 1959) trang 420-436.   - Năm 1960 Harry Levin dùng từ "postmodernism" trong tiểu luận "What Was Modernism?" Massachusetts Review vol. 1 no. 4 (August 1960).   - Năm 1965 Leslie Fiedler dùng từ "postmodernism" trong tiểu luận "The New Mutants " Partisan Review vol. 32 no. 4 (Fall 1965).   - Năm 1968 John Perreault sử dụng từ "postmodernism" (không rõ sử dụng ở đâu); và cùng năm ấy Amitai Etzioni trong cuốn The Active Society (New York: Free Press 1968).   - Năm 1969 có một số tiểu luận sử dụng từ "postmodern" ngay trên nhan đề như: G. Feinberg "Post-Modern Science" Journal of Philosophy 66: 19 1969 pp.638-646; Vytautas Kavolis "Revolutionary Metaphors and Ambiguous Personalities: Notes Toward an Understanding of Post-Modern Revolutions" Soundings vol. 52 1969 pp.394-414; Herbert G. Reid "Society in the Postmodern Period" The Review of Politics 1969 31: 3 pp.427-429; và Theodore Ziolkowski "Toward a Post-Modern Aesthetics" Mosaic 2:4 1969 pp.112-119.   - Từ năm 1970 đến 1979 có một số lượng to lớn tiểu luận luận văn tiến sĩ tạp chí và sách nói về "postmodern" và/hoặc "postmodernism". Chỉ kể riêng những bài/cuốn có sử dụng các từ "postmodern" và/hoặc "postmodernism" ngay trên nhan đề ta cũng có thể lập được một danh sách hàng trăm món. [Xin xem phần PHỤ LỤC ở cuối bài này].  

Chỉ có những cậu học trò trung học lười biếng ẩu tả thì mới vội vã cho ta câu trả lời rằng: "Từ "hậu hiện đại" (postmodern) xuất hiện lần đầu trong cuốn Hoàn cảnh Hậu hiện đại (La Condition Postmoderne) của Jean-Francois Lyotard..." hay "Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại lần đầu tiên xuất hiện năm 1977 trong cuốn sách Ngôn ngữ kiến trúc hiện đại (sic) của Charles Djenks (sic)."

Những cái sai lố bịch ấy chứng tỏ ông Hoàng Ngọc Hiến chưa từng biết đến một tài liệu nào sử dụng thuật ngữ "chủ nghĩa hậu hiện đại" trước cuốn sách năm 1977 ấy (mà ông đã ghi sai cả tên tác giả lẫn tên sách) và ông Trịnh Lữ chưa từng biết đến một tài liệu nào sử dụng từ "hậu hiện đại" trước khi ông nhìn thấy cuốn sách Hoàn cảnh Hậu hiện đại (La Condition Postmoderne 1979) của Jean-Francois Lyotard do Phạm Xuân Nguyên dịch (nxb. Tri Thức 2007). Cả hai ông đều không biết "hậu hiện đại" có cái gì trước 1977 và 1979 nhưng cả hai ông đều không hề có một chút thắc mắc nào cả.

    Hình scan bìa sách: 1. Charles Jencks The Language of Post-Modern Architecture New York: Rizzoli 1977. 2. Jean-François Lyotard La condition postmoderne Paris: Les Éditions de Minuit 1979. 3. Jean-François Lyotard Hoàn cảnh hậu hiện đại bản dịch Phạm Xuân Nguyên Hà Nội: nxb Tri Thức 2007.  

Thậm chí hai ông cũng chỉ may mắn lắm là trông thấy hai cái bìa sách ấy hay nghe người nào nói loáng thoáng về hai cuốn sách ấy là cùng. Vì nếu hai ông thực sự có đọc hai cuốn sách ấy thì hai ông sẽ tuyệt đối không thể tìm ra trong hai cuốn sách ấy có bất cứ dòng chữ nào ghi rằng hai tác giả ấy là những người đầu tiên đẻ ra các từ "postmodern" và/hoặc "postmodernism"!

Chưa đọc sách chỉ nghe lóm hay chỉ nhìn thấy cái bìa sách thế mà các ông tự tin tuyệt đối vào cái biết hạn hẹp đến kỳ quái của mình và các ông hiên ngang phun châu nhả ngọc về "hậu hiện đại" tại các hội thảo khoa học cao cấp ở thủ đô! Thế là thế nào?

Nếu các ông đi thuyết giảng về "hậu hiện đại" đem "chủ nghĩa hậu hiện đại" ra mà lý luận trong văn học trong mỹ thuật trong khi các ông chỉ biết đoán mò và nói bừa như thế thì các ông thuyết giảng lý luận về cái gì vậy? Với cái mớ kiến thức như các ông mà các ông dám nói thao thao bất tuyệt suy diễn tràng giang về lịch sử và sự phát triển của mỹ học "hậu hiện đại" thì quả là một quái trạng văn hoá không thể tưởng tượng nổi. Quả là một kiểu "múa gậy vườn hoang" bất kể trong khu vườn ấy thật ra có hơn 80 triệu người đang sống!

Những cái sai ấy không phải do sơ suất. Là học giả là giáo sư thì người ta không ngừng tra vấn thắc mắc chứ ai lại có thể chỉ vừa nhìn thấy một cái bìa sách hay vừa nghe lóm là đã vội vàng tự xem là mình tìm ra đáp số! Là học giả là giáo sư thì ai lại dám tin tuyệt đối vào những thông tin sơ sài thiếu thốn đến mức quái dị như thế rồi nghênh ngang tung ra những cái sai lố bịch mà một cậu học trò trung học (nếu không lười biếng ẩu tả) cũng không thể sai được! Các ông lại tuyên bố những điều ấy với giọng của sách giáo khoa tiểu học ngắn gọn dứt khoát đầy thẩm quyền không một chút phân vân "có thể" hay "có lẽ" nào cả. Thế thì chắc chắn những cái sai ấy là do lòng tự cao tự đại không bờ bến của các ông. Lòng tự cao tự đại ấy khiến các ông vớ được cái gì thì tin ngay rằng cái đó phải là cái trước hết rằng cái đó là sự phát hiện đầu tiên chính xác và đầy thẩm quyền của riêng các ông mà thiên hạ cần phải lắng nghe các ông để học hỏi.

Điều tai hại nhất của cái thái độ này không chỉ ở chỗ nó làm hạ thấp tư cách của chính chủ thể mà còn ở chỗ nó không ngừng làm hạ thấp dân trí. Vài ba người tuyên bố nghênh ngang như thế tại những loại hội thảo cao cấp giả hiệu (với mục đích giải ngân) mà không có ai phản đối thì được báo chí ca tụng truyền bá rộng ra rồi hàng loạt người nhắm mắt tin theo. Cứ thế nó lan dần ra và tạo thành cái "mặt bằng" tri thức của cả một thế hệ. Thử lấy ngay chuyện "hậu hiện đại" làm ví dụ. Suốt thập niên vừa qua một số học giả nghiêm túc đã không ngừng nỗ lực truyền bá đến độc giả Việt Nam những kiến thức phong phú đáng tin cậy và được giải thích mạch lạc về các phương diện của chủ nghĩa hậu hiện đại. Thế nhưng cho đến hôm nay đại đa số độc giả ngay cả những người trong văn giới và môi trường học đường ở Việt Nam vẫn hiểu rất mù mờ và lệch lạc về chủ nghĩa hậu hiện đại. Lý do là có một lực lượng những học giả khác chuyên đi gây nhiễu thông tin. Họ là những kẻ chỉ đọc láp nháp tìm hiểu sơ sài rồi tuỳ tiện diễn dịch sao cho vừa ý nhà cầm quyền và vừa ý mình nhưng họ lại có điều kiện xuất hiện tại các hội thảo khoa học cao cấp giả hiệu để lên gân phun châu nhả ngọc rồi viết thành tiểu luận in thành sách phát tán vô số điều lệch lạc đến độc giả. Trong tình trạng còn thiếu tài liệu thiếu sách vở để nghiên cứu giới hiếu học bị rơi vào một cõi hỗn loạn thông tin toàn là những điều mâu thuẫn chẳng còn biết đâu là đúng là sai nữa.

Cái quái trạng này đã diễn ra và lặp đi lặp lại trong suốt nhiều năm qua ở Việt Nam. Nếu không có cách nào thay đổi thì cho dù các học giả nghiêm túc có nỗ lực truyền bá kiến thức đúng đắn đến cách mấy cũng thành vô ích vì tất cả những nỗ lực của họ sẽ bị bóp méo phá hoại không ngừng bởi những kẻ háo danh tự mãn và vô trách nhiệm.

 

Sydney 16/10/2008

 

-----------

PHỤ LỤC:

Dưới đây là bản liệt kê một số những tiểu luận luận văn tiến sĩ tạp chí và sách được công bố từ 1970 đến 1979 có sử dụng các từ "postmodern" và/hoặc "postmodernism" ngay trên nhan đề. Bản liệt kê này tất nhiên còn rất thiếu sót vì chỉ là những gì tôi lọc ra từ những tài liệu mà tôi sưu tập được cho công việc nghiên cứu của riêng mình. Trong thập niên 70 những sách báo có sử dụng các từ "postmodern" và/hoặc "postmodernism" trong nội dung có lẽ đã chiếm một số lượng khổng lồ. Từ năm 1980 đến nay số lượng sách báo (của các ngôn ngữ trên thế giới) có sử dụng từ "postmodern" và/hoặc "postmodernism" ngay trên nhan đề hoặc trong nội dung thì tất nhiên nhiều đến mức bất khả liệt kê!

 

1970:

Kavolis Vytautas "Post-Modern Man: Psychocultural Responses to Social Trends" Social Trend s 17: 4 1970 p.435.  

1971:

Hassan Ihab Habib "POSTmodernISM: a Paracritical Bibliography" New Literary History 3: 1 Aug. 1971 pp.5-30.   Hassan Ihab Habib The Dismemberment of Orpheus: Toward a Postmodern Literature New York: Oxford University Press 1971.   New Literary History 3:1 1971. Special Issue: Modernism and Postmodernism.  

1972:

Antin David "Modernism and Postmodernism: Approaching the Present in American Poetry" Boundary 2 1 1972 pp.98-133.   Boundary 2 Binghamton Department of English: State University of New York vol. 1 Fall 1972. Special Issue: Feminism and Postmodernism.   Kavolis Vytautas "An Alternative Postmodernity" Journal of Aesthetics & Education 6 Jan-Apr 1972 pp.125-137.   Spanos William V. "The Detective and the Boundary: Some Notes on the Postmodern Literary Imagination" Boundary 2 1 1972 pp.147-168.  

1973:

Altieri Charles "From Symbolist Thought to Immanence: The Ground of Postmodern American Poetics" Boundary 2 1 1973 pp.605-641.   Galloway Devid "Post-Modernism" Contemporary Literature 14 1973 pp.398-405.   Graff Gerard "The Myth of the Postmodern Breaktthrough" TriQuarterly 26 1973 pp.383-417.   Hearron William "New Approaches in the Post-Modern American Novel" Dissertation Abstract International 34: 6 Dec 1973 p.3398 A.   Pütz Manfred "The Struggle of the Postmodern: Books on a New Concept in Criticism" Kritikon Litterarum 2 1973 pp.225-237.   TriQuarterly 26 1973. Special Issue: On Postmodernism.  

1974:

Kennedy A. "Dramatic Action the Modern and the Post-Modern" The Protean Self Columbia University Press 1974 pp.27-61.   Modern Literature 3 1974. Special Issue: From Modernism to Postmodernism.   Olson Charles "The Act of Writing in the Context of Post-Modern Man" Olson: The Journal of the Charles Olson Archives 2 1974 p.28.   Pinsker Sanford " "Ulysses" and the Post-Modern Temper" Midwest Quarterly 15 1974 pp.406-416.   Schmitz Neil "Gertrude Stein as Postmodernist: The Rhetoric of Tender Buttons" Journal of Modern Literature 3 1974 pp.1203-1218.   TriQuarterl y 30 1974. Special Issue: On Postmodernism.   Wasson Richard "From Priest to Prometheus: Culture and Criticism in the Post-Modern Period" Journal of Modern Literature 3 1974 pp.1188-1202.  

1975:

Alpert Barry "Post-Modern Oral Poetry: Buckminster Fuller John Cage and David Antin" Boundary 2 3 Spring 1975 pp.665-682.   Caliban 12 1975. Special Issue: Postmodernism.   Calinescu Matei "Avant-Garde Neo-Garde Post-Modernism: The Culture of Crisis" Clio 4: 3 Jun 1975 pp.317-340.   Davidson Michael "The Languages of Postmodernism" Chicago Review 27 1975 pp.11-22.   Graff Gerard "Babbit at the Abyss: The Social Context of Postmodern American Fiction" TriQuarterly 33 1975 pp.305-337.   Hassan Ihab Habib "Joyce Beckett and the Post-Modern Imagination" Tri-Quartely 34 Autumn 1975 pp.179-200.   Morrissette Bruce "Post-Modern Generative Fiction: Novel and Film" Critical Inquiry 2 1975 pp.253-262.   TriQuarterly 32 1975. Special Issue: On Postmodernism.   TriQuarterly 33 1975. Special Issue: On Postmodernism.  

1976:

Brummett Barry "Some Implications of "Process" or "Intersubjectivity" Postmodern Rhetoric" Philosophy Rhetoric 9 Winter 1976 pp.21-51.   Caserio Robert "Paracriticism Postmodernism and Prophecy" Boundary 2 5: 1 1976 pp.167-173.   Cullum J.W. "Nathan Scott and the Problem of a Postmodern Ethics" Boundary 2 2: 3 1976 pp.965-972.   Noel Daniel "Tales of Fiction Power. Dreaming and Imagination in Ronald Sukenick s Postmodern" Boundary 2 5: 1 1976 pp.117-136.   Spanos William V. "Heidegger Kierkegaard and the Hermeneutic Circle: Towards a Postmodern Theory of Interpretation as Dis-Closure" Boundary 2 4: 2 1976 pp.455-488   Thiher Allen "Postmodern Dilemnas: Godard s Alphaville and Two or Three Thinks That I Know About Her" Boundary 2 4: 3 1976 pp.947-964.   Wilde Alan "Berthelme Unfair to Kierkagaard: Some Thoughs on Modern and Postmodern Irony" Boundary 2 5: 1 1976 pp.45-70.  

1977:

Amerikastudien 22: 1 1977. Special Issue: Postmodernism.   Benamou Michel; Carmello Charles Performance in Postmodern Culture Milwaukee: Centre for Twentieth-Century Studies 1977.   Berryhill Michael "Walt Whitman and Post-Modern Consciousness" Dissertation Abstract International 38: 3 Sept 1977 p.1376 A.   Blake Harry "Le post-modernisme américain" Tel Quel 71-73 1977 pp.171-182.   Davis D. Artculture: Essays on the Post-Modern New York: Harper and Row 1977.   Deren Jane "Denise Levertov s Postmodern Poetics: a Study in Theory and Criticism" Dissertation Abstract International 38: 4 Oct 1977 p.2111 A.   Hoffmann Gerhard; Horning Alfred; Kunow Rüdiger " "Modern" "Postmodern" and "Contemporary" Criteria for the Analysis of 20th-Century Literature" Amerikastudien 22 1977 pp.19-46.   Köhler Michael "Postmodernismus: Ein begriffsgeschichtlicher Überblick (Post-modernisme: vue d ensemble: l histoire du concept)" Amerikastudien 22:1 1977 pp.19-46.   Kundow R.; Hoffman G.; Hornung A. "Modern Post-Modern and Contemporary as Criteria for the Analysis of 20th Century Literature" Amerikastudien 22: 1 1977 pp.19-46.   Lodge David Modernism Antimodernism and Postmodernism Birmingham: University of Birmingham Press 1977.   Jencks Charles The Language of Post-Modern Architecture New York: Rizzoli 1977.   Navero William "The Emergence of Mythopoetic Post-Modern Image and the Poetics of Charles Olson" Dissertation Abstract International 38: 3 Sept 1977 p.1393 A.   Palmer Richard E. "Postmodernity and Hermeneutics" Boundary 2 5: 2 1977 pp.363-393.   Peper Jürgen "Postmodernismus: Unitary Sensibility?" Amerikastudien 22:1 1977 pp.65-89.   Rice-Savre Laura "Abra-Cadaver: the Anti-Detective Story on Postmodern Fiction" Dissertation Abstract International 37: 7 Jan 1977 p.4339 A.   Sonheim A. (ed.) Individuals: Post-Movements Art in America New York: Dutton 1977.  

1978:

Hassan Ihab Habib "Culture indeterminacy and Immanence: Margins of the (Post-Modern) Age" Humanities in Society 1 Winter 1978 pp.51-85.   Hayman David "Double-distancing: An Attribute of the "Post-Modern" Avant-Garde" Novel. A Forum on Fiction 12 1978 pp.33-47.   Gordon Patricia "The Function of Literature as Interpreted by Twentieth-Century Writers: the Postmodern Authors" Dissertation Abstract International 38: 8 Feb. 1978 p.4816 A.   Kern Robert "Composition as Recognition: Robert Creeley and Postmodern Poetics" Boundary 2 6: 3 Spring-Fall 1978 pp.211-232.   Knesl J. "Post-Modern History Critique" Architectural Design 48:11-12 1978 p.576.   Spanos William V. "The Un-Naming of the Beasts: the Post-Modernity of Sarte s La nausée" Criticism 20: 3 Summer 1978 pp.223-280.  

1979:

Akin O. "Style Named Post-Modern" Architectural Design 49: B-9 1979 pp.224-226.   Altieri Charles "Postmodernism: A Question of Definition" Par Rapport 2 1979 pp.87-100.   Altieri Charles "Modern and Post-Modern: Symbolist and Immanentist Modes of Poetic Thought" in Enlarging the Temple Charles Altieri (ed.) Bucknell: Bucknell University Press 1979 pp.29-52.   Birnholz A. C. "Artculture: Essays on the Post-Modern de D. Davis" The Journal of Aesthetics and Art Criticism 37: 2 Winter 1979 p.245.   Bleikastein A. "The Paradox of True Lie: on the Fictionality of Fiction (Fiction et vérité chez les modernistes et post-modernistes)" British Journal of Aesthetics 20: 3 1979 pp.229-236.   Blocker H. Gene "Autonomy Reference and Post-Modern Art" British Journal of Aesthetics 20: 3 1979 pp.229-236.   Bonta J. P. "Modernism and Post-Modernism: a Semiotic View" Proceedings of the 67th. ACSA Annual Meeting M.J. Bednar (ed.) Wahington: Association of Collegiate School of Architecture Press 1979 pp.145-153.   Canter D.; Groat L. "Does Post-Modernism Communicate ?" Progressive Architecture 60: 12 Dec 1979 pp.84-87.   Colvile G. "Labor Delivered is Love Regained: Women s Writing and Art in Postmodern America" Revue française d études américaines 14: 8 1979 pp.225-242.   Dahrendorf Ralf "Post-Modern Values" New Society 893 15 Nov 1979 pp.360-362.   Davern J. M. "Postmodernists" Architectural Record 165: 2 Feb 1979 p.4.   Delbaere-Garant P. "The Divided Worlds of E. Bronte V. Woolf and J. Frame. (A Post-Modern Perspective)" English Studies 60: 6 1979 pp.699-711.   Groat Linda N.; Canter D. "Does Post-Modernism Communicate ?" Progressive Architecture 60: 12 Dec 1979 pp.84-87.   Heim Michael R "Some Philosophical Proposals for the Role of the Humanities: Toward a Postmodern Logic" Kinesis 9 Spring 1979 pp.39-46.   Holdheim W. Wolfgang "Wilhelm Worringer and the Polarity of Understanding" Boundary 2: A Journal of Postmodern Literature and Culture 8:1 Fall 1979 pp.339-358.   Jencks Charles Le langage de l architecture post-moderne London: Academy Editions 1979. [Bản dịch Pháp văn]   Kavolis Vytautas "Social Evolution of the Artistic Enterprise" Research in Sociology of Knowledge Sciences and Art 2 1979 pp.155-188.   Kearney Timothy "The Poetry of the North: a Post-Modernist Perspective" The Crane Bag 3: 2 1979 pp.45-53.   Krauss Rosalind E. "John Mason and Post-Modernist Sculpture: New Experiences New Words" Art in America 67: 3 May-Jun 1979 pp.120-127.   Levin R. "Language of Post-Modern Architecture de C.A. Jencks" The Journal of Aesthetics and Art Criticism 37: 2 Winter 1979 p.239.   Lyotard Jean-François La condition postmoderne: rapport sur le savoir Paris: Minuit 1979.   Malmgren Carl Darryl "Fictional Space in the Modernist and Postmodernist American Novel" Dissertation Abstract International 40: 6 Dec 1979 p.3291   Miller R. L. "Supermannerism: New Directions in Post-Modern Architecture de C.R. Smith" American Institute of Architects 68: 6 1979 p.264.   Moffett K. M. "Assessing Post-Modernism: an Overview" Bednar M.J. (ed.) Proceedings of the 67th. ACSA Annual Meeting Washington: Association of Collegiate School of Architecture Press 1979 pp.164-168.   Müler Heiner "Reflections on Post-Modernism" New German Critique 16 Winter 1979 pp.55-58.   Obrien D. "Call for Courage: Post-Modern Architecture" Architectural Review 165: 986 Apr 1979 p.192.   Par Rapport 2:2 1979. Special Issue: Postmodernism.   Parks Michael E. "Art Education in a Post-Modern Age" Art Education 42: 2 Mars 1979 pp.10-13.   Schechner Richard "Postmodern Performance - The End of Humanism" Performing Arts Journal 4: 11 1979 pp.9-22.   Schumacher "Rome: Orphan of the Modern Movement or Cradle of Post-Modernism" Architectural Design 49: 3-4 1979 p.91.   Schurmann Reiner "Anti-Humanism. Reflections of the Turn Toward the Post-Modern Epoch" Man and World 12: 2 1979 pp.160-177.   Sexon L. "First Act Repeated: Myth in the Postmodern Age" Parabole 4: 3 Aug 1979 pp.53-71.   Spanos William V. "De-struction and the Question of Postmodernist Literature: Toward a Definition" Par Rapport 2 1979 pp.107-122.   Spanos William V. "Postmodern Litarature and the Hermeneutic Crisis" Union Seminary Quarterly Review 34: 2 1979 pp.119-131.   Spanos William V. (ed.) Martin Heidegger and the Question of Literature: Toward a Postmodern Literary Hermeneutics Bloomington: Indiana University Press 1979.   Stephens S "Beyond Fragments: Architectural Frame-work Necessary for Assimilating Elements of Post-Modern Period" Progressive Architecture 60: 12 Dec 1979 pp.88-90.   Thompson W. W. "Johnson Original Thinking Post-Modernism" Architects Journal 196: 23 6 juin 1979 p.1149.   Thornton G. "Post-Modern Photography: It Doesn t Look Modern at All" Artnews 78: 4 April 1979 pp.64-69.   Whelan R. "Art-Culture: Essays on the Post-Modern" de D. Davis Artnews 78: 9 Nov 1979 pp.42-43.

 

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ Lê Thành Nhơn Nguyễn Hưng Trinh và Lê Văn Tài

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2008

KnipleEmentee

lady luck online casino clrdv

free casino games slotomania mgm online casino real casino free casino games slots | https://onlinecasinodd.com/ - online gambling https://onlinecasinodd.com/ - big fish casino

Sameer

shatma

Well this is great new that you can have free heart of vegas coins online for play with full mind.

nhacsicodon

ĐI GÕ CỬA TÌNH
Đội đơn đi gõ cửa tình
Mùa xuân đã cạn cho mình chen ngang
Lẽ nào yêu phải xếp hàng
Lạy trời xin được gian nan với người

Lận đơn lén lút cổng quan
Cửa to tôi ngán nên quàng cửa sau
Gặp mặt quan hỏi thật mau
Trăm triệu chắc đủ tôi thầu vila

Hheheh bài thơ rất hay có phần dí dỏm và dễ thương .

Bái phục anh !
Chúc vui

dambanme

Anh Thiên Thị ơi

Những thứ từ ngữ dường như chỉ còn là một công cụ để người ta biểu hiện "tầm tư tưởng" mà thôi anh đừng bận tâm quái gì dến những linh tinh ấy. Ta làm thơ viết văn chỉ là để giao cảm với cuộc đời thêm cho nhau niềm vui bớt cho nhau nỗi buồn. Thế thôi. Từ ngàn thuở xa xưa cho đến muôn sau cũng vẫn thế và chỉ có thế. Vì chính thế mới làm nên đời sống con người và cái tồn tại duy nhất trong cõi đời hỗn tạp này có chăng chỉ là một trái tim và ột tâm hồn đúng nghĩa mà thôi. Chúc anh vui khỏe bình an và nhẹ nhõm.

Vữ Nam

Viện Hàn Lâm Khoa Học Nhân Văn nước CHXHCNVN : Đỉnh cao trí tuệ

(một câu chuyện khôi hài đen hoặc khoa học viễn tưởng)

Phạm Chí Diệp

Sau khi đọc bài “Một quái trạng văn hoá” của Hoàng Ngọc-Tuấn tôi ra quán cà phê và thấy bạn bè cũng đang bàn tán xôn xao về vụ này. Tôi tham gia vào cuộc bàn tán rồi dần dần cả bọn chuyển sang trò chơi sáng tác chuyện khôi hài đen. Lúc ấy tôi chỉ nghe các bạn thay nhau kể nhưng tôi không đóng góp được cái gì. Đến lúc đã chia tay nhau trên đường về tôi mới nghĩ ra được một câu chuyện về hậu quả của cái quái trạng văn hoá mà Hoàng Ngọc-Tuấn đã phân tích. Câu chuyện như sau:

Trong bài tham luận “Sự phát triển của thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam thế kỷ 20” đọc tại Hội nghị Khoa học “Văn xuôi Việt Nam Hiện đại” do Viện Hàn Lâm Khoa Học Nhân Văn nước CHXHCNVN tổ chức tại Văn Miếu tiến sĩ Việt Nam đương đại Hà Nội ngày 1/1/2021 ông Trịnh Hiến giáo sư lý luận phê bình kiêm dịch giả văn học nổi tiếng Việt Nam đã khẳng định:

Từ “truyện ngắn” xuất hiện lần đầu trong cuốn Truyện ngắn Úc (Australian Short Stories) do Trịnh Lữ dịch xuất bản năm 2005. Thuật ngữ “văn học” lần đầu tiên xuất hiện năm 1997 trong cuốn sách Văn học và học văn của Hoàng Ngọc Hiến...

Cử toạ gồm những nhà hàn lâm nổi tiếng của nước CHXHCNVN đã đồng loạt đứng lên vỗ tay vang dội trước những khám phá vô cùng độc đáo của Giáo sư Trịnh Hiến.

(bài này sưu tầm trên blogs mời quý vị thưởng thức)

Thục Hiền

Văn hoá VN đến hồi sạt nghiệp

Ở đây có mấy cái ý kiến quá ngược đời.
Những kẻ trí thức háo danh giả hiệu như 3 ông Hoàng Ngọc Hiến và Trịnh Lữ huyênh hoang tuyên bố những điều sai ngớ ngẩn trước hội thảo cao cấp làm hại đến tri thức của thế hệ trẻ. Thì lại được mấy ông ở đây bênh vực.

Ông Hoàng Ngọc-Tuấn là một người đứng ra thẳng thắn tố cáo vạch mặt những trò phản văn hoá ấy. Thì lại bị mấy ông chê trách.

Văn hoá VN đến hồi sạt nghiệp rồi.

kangaroo

hoang ngoc tuan

Ai mà hơi sức đâu khó chịu. Nhưng bàn cách nào đây. Một người bàn luận với thái độ đàng hoàng với tâm ý tốt thì lộ ra trong lời ăn tiếng nói. Còn một kẻ đầu óc hẹp hòi bần tiện thì nói những lời hạ cấp. Hoàng Ngọc Tuấn nói những lời chứng tỏ đấy là con người lổ mãng nên bị phê phán. Trịnh Lữ và Hoàng Ngọc Hiến nếu có lầm thì đấy là việc nên lên tiếng. Nhưng lên tiếng như thế nào cái nhân cách ấy được người đời phê phán là chuyện bình thường

Lê Phúc

Khốn khổ

Học thuật thì rành rành thế rồi còn bàn gì nữa. Điều đáng bàn là cái thực trạng người VN sống quá lâu với những chuyện nhếch nhác rồi đâm ra quen đi thấy bình thường. Nếu có ai phê phán kêu gọi sửa đổi thì đâm ra khó chịu. Cái khốn khổ là thế.

tranthienthi

gởi tất cả bạn bè

T3 chuẩn bị lên xe ra Thanh hóa đi kiếm ăn
xin để lại mấy lời;
1/T3 rất ít khi sa vào tranh luận học thuật
2/ít khi post lên blóg này cái gì ngoài thơ
3/Việc tôi đưa bài này của Trần Ngọc Tuấn lên vì tôi cho rằng nó cần thiết phải tham khảo.
4/ việc tranh luận tôi thấy là cần thiết
5/chỉ xin là là các bạn phát biểu sâu vào học thuật
vấn đề cá nhân xin nhẹ nhàng
Hẹn T3 đi kiếm cơm xong sẽ quay về

14h26
10-19-2008
trần thiên thị

Trần Thanh Lan

Chấp nhận dân trí thấp là vinh quang

Tôi thấy các ông bào chữa cho ông HNH & TL ở đây có lẽ muốn chấp nhận dân trí thấp là vinh quang. Tôi tưởng đàn ông như các ông thì ham hiểu biết chứ an phận tối tăm sau lũy tre làng thì còn nói gì nữa. Đủ vinh quang lắm rồi. Nhục mãi thì cũng quen đi thôi. Phải thế không các ông?

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'2061','vhuilfbopf7dljepoa78lcqk01','0','Guest','0','54.166.203.17','2018-09-20 21:44:49','/a100539/mot-quai-trang-van-hoa-hoang-ngoc-tuan-www-tienve-org.html')